Thuyết trình nghiên cứu ở hội nghị

Header: 
[vn]Thuyết trình nghiên cứu ở hội nghị, hội thảo và sự kiện[/vn][us]Presenting research at seminars, events and conferences[/us]

[vn]

1. Mục đích của việc thuyết trình nghiên cứu

Nghiên cứu học thuật được gây quỹ bới công chúng. Sự khác nhau đáng kể giữa việc học đại học và nghiên cứu sau đại học là nằm ở trong trường công chúng. Trong suốt thời gian làm Tiến Sỹ, bạn sẽ có một vài cơ hội để thuyết trình các kết quả nghiên cứu của mình tới những người khác: các buổi hội nghị khoa, các buổi hội thảo học thuật và cuối cùng trong kì thi vấn đáp. Bất cứ con đường nào bạn đi sau quá trình Tiến Sỹ thì việc nói trước công chúng sẽ là sự việc thường xuyên. Bạn luyện tập càng nhiều trong thời gian làm Tiến Sỹ, càng nhiều góp ý bạn nhận được trên sự thuyết trình của bạn – bạn sẽ càng tốt hơn trong việc nói trước đám đông. Bài thuyết trình công chúng hiệu quả làm tăng cơ hội nghiên cứu và nghề nghiệp của bạn.

Hầu hết các hội thảo hay hội nghị đều yêu cầu nộp một bản tóm tắt và tiêu đề cho cuộc thuyết trình. Thêm vào đó, nhiều cuộc hội thảo sẽ có chủ đề. Viết một bản tóm tắt hiệu quả là cách bạn xin vào hội thảo. Những cuộc hội thảo học thuật danh tiếng có những quá trình kiểm tra kín để đảm bảo chất lượng của bài thuyết trình. Kiểm tra hướng dẫn nộp bài để đảm bảo bạn đang đưa ra nội dung phù hợp với chủ đề chung của hội thảo. Và nên đọc hướng dẫn thuyết trình cẩn thận. Nhiều hội thảo sẽ có định dạng dành riêng cho sinh viên cao học như áp phích, thuyết trình điểm nổi bật hay bài viết 20 phút về công việc đang tiến hành cũng như các bài viết hội thảo được xuất bản đầy đủ. Khi bạn viết bản tóm tắt, bạn phải có ý tưởng rõ ràng về:

- Cái bạn muốn khán giả nhận được từ bài thuyết trình

- Ý chính hay mục đích của bạn là gì.

Một khi bản tóm tắt được chấp nhận, bạn phải làm theo lời hứa của bạn, bạn không thể có suy nghĩ thứ hai khi mà bản tóm tắt sẽ được đọc bởi những người đến dự phiên của bạn. Bạn phải truyền đạt cái mà bản tóm tắt của bạn đã cam kết.

2. Lên kế hoạch bài thuyết trình

Một bản tóm tắt của bạn được chấp nhận, bạn phải chuyển điều bạn cam kết sang việc bạn sẽ truyền đạt bài thuyết trình như thế nào. Cách đơn giản nhất để làm điều này là viết những điều bạn muốn khán giả nghe bài thuyết trình của bạn khám phá. Thử tưởng tượng người này sẽ nói gì khi một đồng nghiệp hỏi bài nói của bạn như thế nào và về cái gì. Bạn muốn họ tổng kết bài thuyết trình của bạn như thế nào? Chỉ bạn biết mục tiêu của mình.

Trong khi nhiều người thuyết trình mới cho rằng rào cản lớn nhất cho một bài thuyết trình hiệu quả là sự lo lắng của họ thì vấn đề phổ biến nhất với việc nói trước công chúng là quên đi mục đích tiếp cận với khán giả của bạn. Để giúp bạn chuẩn bị bài nói của mình, hãy hỏi chính bạn:

- Tôi có thể giả định điều gì mà mọi người đều biết về chủ đề của tôi?

- Họ biết tôi là ai không?

- Kiến thức nền hay nội dung gì tôi cần giải thích?

- Họ đã đọc bản tóm tắt của tôi hay đến buổi hội thảo dựa trên tiêu đề?

- Tôi đang cô gắng để thông báo họ một vài thứ mới hay yêu cầu họ hồi âm tơi bài thuyết trình của tôi (hay trong cách diễn đạt khác, tôi muốn một khán giả chủ động hay bị động?)?

- Bao nhiêu chi tiết họ cần biết về nghiên cứu của tôi?

- Tôi đang đưa ra một kết luận có tính thăm dò hay một bài luận rõ ràng?

- Tôi muốn mọi người nghe và nhìn tôi hay theo dõi các slides?

- Bạn cần 1 bản giấy cầm tay không hay chỉ cần các slides?

- Bài thuyết trình của bản chỉ là một cuộc nói chuyện hay sẽ được viết mà những người tham gia hội thảo có thể tiếp cận trước lẫn sau hội thảo?

3. Chuẩn bị bài thuyết trình của bạn

Bài thuyết trình đáng nhớ thường có sự mở bài hấp dẫn. Đó có thể là một câu chuyện, giai thoại khêu gợi sự tò mò của khán giả. 60 giây đầu của bài thuyết trình của bạn là khi bạn hoặc đạt được hoặc đánh mất sự tập trung của khán giả.

Tuy nhiên, nhiều thời gian bạn có (thường 20, 30 hay 40 phút ở hầu hết các hội thảo), nó là hữu ích để phá vỡ bài thuyết trình của bạn thành các mục nhỏ hơn. Bài thuyết trình của bạn có mục đích rõ ràng và cấu trúc của bạn giúp bạn đạt được điều đó. Bài thuyết trình tốt có đặc điểm tương tự tới bài viết học thuật chất lượng cao hay bài giảng đáng nhớ: bạn được tham gia trong 1 câu chuyên với khán giả của bạn kể cả 1 phía của sự thỏa thuận chỉ là đọc hoặc nghe. Nhà sử học người Mỹ Peter Feline (2005) đưa ra 5 mẹo cho sự thành công của bài giảng, cái có thể áp dụng tới bài hội thảo:

1. Đặt ra 1 câu hỏi (có thể trong nội dung của hình minh họa hay một câu chuyện) ở phần bắt đầu của 1 bài nói chuyện.

2. Tìm ra 1 cách để tán tụng khán giả của bạn về tầm quan trọng hay ý nghĩa của công việc của bạn. Feline chỉ ra rằng một vài người nghe thích các nội dung trừu tượng trong khi những người khác liên hệ tới các ví dụ cụ thể. Một bài thuyết trình tốt có thể sử dụng một ví dụ rõ ràng để nhấn mạnh một lý thuyết hay vấn đề trừu tượng. Nếu bạn không hào hứng về chủ đề của bạn, hay cảm thấy hối tiếc, sau đó người nghe sẽ không tập trung nhiều tới câu hỏi nghiên cứu và những sự khám phá của bạn.

3. Có một cấu trúc rõ ràng cái được tín hiệu tới người nghe với những biển chỉ dẫn, sự chuyện giọng và sự tạm dừng. Một kỹ thuật được thử nghiệm là tập trung trên một khía cạnh đặc biệt của bài nghiên cứu của bạn cái chỉ ra sự điều tra chung của bạn, thỉnh thoảng đề cập tới như là “để 1 phần nói toàn bộ”. Tránh cái bẫy của việc nói cho người nghe mọi thứ về chủ đề nghiên cứu của bạn. hai hay ba điểm chính là mục tiêu thực tế cho 1 bài thuyết trình 40 phút. Bài viết của bạn, sau tất cả, sẽ là một trong nhiều bài khán giả sẽ nghe trong suốt buổi hội thảo.

4. Đưa ra cho khán giải của bạn một câu trả lời rõ ràng tới câu hỏi mở của bạn (đây là phong cách nghệ thuật khi bạn thắt lại sự mở của bạn).

5. Để khán giả của bạn muốn biết nhiều hơn và tò mò hơn về sự nghiên cứu tương lai của bạn. Điều này sẽ cung cấp một cầu nối tới mục “câu hỏi và trả lời” của bài thuyết trình của bạn.

4. Truyền tải bài thuyết trình của bạn

Nếu bài viết của bạn có một phần được viết riêng biệt, sau đó dùng cấu trúc của bài viết của bạn nhưng không đọc trực tiếp từ nó. Điều này sẽ làm khán giả của bạn buồn ngủ. Và họ có thể đọc bài viết của bạn ở sự giải lao của họ.

Bạn cần luyện tập thuyết trình bài viết của bạn và phát triển một định dạng cái hợp với bạn. Sự luyện tập hiện tại phổ biến nhất là người thuyết trình sử dụng sự trình chiếu các slides như lời nhắc cho họ. Bất lợi của điều này là bạn có thể đến đích với các slides hơn là với khán giả. Hơn thế, nhiều người thuyết trình có quá nhiều slides với quá nhiều thông tin trên mỗi slide khiến khán giả không thể theo dõi. Một nguyên tắc hợp lý là 1 slide nên để ít nhất 3 phút cho việc nói của bạn.

Một kỹ thuật khác là sử dụng thẻ gợi ý với các chủ đề chính được viết cho mỗi phần của buổi trò chuyện. Phương pháp này tạo ra phong cách trò chuyện thân mật, thoải mái. Nhưng bạn cần biết nội dung tốt để có thể lấp đầy những khoảng trống. Có nhiều ví dụ hay của những cuộc nói chuyện 20 phút trên ‘Ted Talks’. Xem 1 vài đoạn băng để thấy những người giao tiếp hiệu quả sử dụng sự giao tiếp bằng mắt, sự khoa tay múa chân, sự hài hước và sự thay đổi bước chân và giọng, những biểu đồ đơn giản, những câu chuyện và phép ẩn dụ để kết nối khán giả. Cuối cùng, khi bạn tham gia những cuộc hội thảo, hội nghị khoa, hãy ghi lại những phương pháp của những người thuyết trình mà bạn thích thú và muốn học theo.

Các mẹo thực hành:

- Kiểm tra địa điểm trước buổi nói của bạn. Bạn có thể ở trong một phòng hội thảo nhỏ, thân mật hay một khán phòng lớn, xếp thành dãy. Kích thước và bố trí của khoảng không sẽ cho bạn những manh mối về các màn hình máy chiếu, bục giảng, mic, và tính thực tiễn của việc phân bố các bản viết tay.

- Giới thiệu bạn tới người đứng đầu buổi thảo luận, nếu có thể hãy làm trước đó.

- Có kế hoạch ‘b’ nếu có vấn đề về công nghệ.

- Đến địa điểm sớm và có những cuộc trò chuyện nhỏ với những người thuyết trình khác.

- Cười, hít thở sâu trước khi bắt đầu, thư giản và sử dụng thời gian của bạn.

- Đừng lưu lại quá lâu sự chào đón của bạn. Nếu bạn hết giờ, nó sẽ tác động đến người thuyết trình ngay sau bạn và làm công việc của người đứng đầu phiên thảo luận đó khó khăn hơn.

- Nếu bạn được hỏi mà bạn không hiểu, hay yêu cầu lịch sự người đó giải thích lại câu hỏi. Nếu bạn không biết câu trả lời, đừng lừa gạt ai. Một kỹ thuật tốt là gợi ý rằng bạn sẽ tiếp tục câu chuyện với người hỏi đó sau buổi hội thảo.

5. Tài liệu tham khảo

Feline, P. (2005). The joy of teaching: a practical guide for new college instructors. University of North Carolina Press: Chapel Hill.

Nguồn: Auckland Uni

[/vn][us]

1. Purpose of presenting your research

Academic research is funded by the public. One significant difference between undergraduate study and postgraduate study is that your work is out there in the public domain. During your dotorate, you will have several opportunities to present your research findings to others: at department seminars, academic conferences and finally at your oral examination. Whatever pathway you follow after your doctorate, speaking at public forums will be a regular occurrence. The more practice you get during your doctorate – and the more feedback you receive on your presentations – the better you will become at public speaking. Effective public presentations enhance your research and your career.

Most conferences or seminars expect you to submit an abstract and a title for your talk. In addition, many conferences will have a theme. Writing an effective abstract is your admission to the conference itself. Reputable academic conferences have blinded review processes to ensure the quality of the proposed presentations. Check the submission guidelines to ensure you are offering a paper that fits the overall conference theme. Also read the presentation guidelines carefully. Many conferences will have formats geared towards the needs of postgraduate students such as posters, ‘spotlight’ presentations or 20 minute ‘work in progress’ papers, as well as the full published conference papers. As you are writing your abstract, you must have a clear idea of:

- What you want your audience to get from your presentation

- What your main idea or purpose is

Once your abstract has been accepted then you have to live up to your promise; you cannot have second thoughts as the abstract will be read by people coming to your session. You have to deliver on what your abstract promised.

2. Planning your presentation

Once your abstract has been accepted, you have to convert what you have promised into how you are going to deliver the presentation. The simplest way to do this is to write down what you want an audience member who is actively listening to your presentation to come away with. Try to imagine what this person might say over coffee when a colleague asks them what your talk was like and what it was about. How would you like them to summarize your presentation? Only you know what your goal is.

While many new presenters assume the largest barrier to an effective presentation is their nerves and anxiety, the most common problem with public speaking is forgetting that the purpose is to engage with YOUR audience. To help you prepare your talk, ask yourself:

- What can I assume people already know about my topic?

- Do they know who I am?

- How much background or context do I need to explain?

- Have they read the abstract or come to the session based on the title?

- Am I trying to inform them of something new or requiring them to respond to my presentation (in other words, do I want an active or passive audience)?

- How much detail do they need to know about my research?

- Am I offering a tentative conclusion or a definite thesis?

- Do you want people to be listening to and watching me or following a slideshow?

- Do you need a hand-out or slideshow?

- Is your presentation a standalone talk or will there be a written paper the conference attendees will have access to either before or after the conference?

3. Preparing your presentation

Memorable presentations typically have an arresting opening. This can be a story, anecdote, from ‘left field’ question or visual ‘hook’ that piques the audience’s curiosity. The first 60 seconds of your presentation is when you can either gain or lose your audience’s attention.

However, much time you have (typically 20, 30 or 40 minutes at most conferences), it is useful to break down your presentation into smaller sub-sections. Remember, you are not filling up the time at hand with words. Your presentation has a definite purpose and your structure is there to help you achieve it. Good presentations have similar characteristics to high quality academic writing or a memorable lecture: you are involved in a conversation with your audience even if one side of the bargain is only reading or listening. American historian Peter Feline (2005) offers five tips for success for lecturing that are equally applicable to a conference paper:

1. Pose a question (preferably within a vignette or story) at the beginning of a talk.

2. Find a way to enthuse your audience about the importance or significance of your work. Feline notes that some listeners prefer abstract concepts whereas others relate more to concrete examples. A good presentation may use a tangible example to highlight a theoretical or abstract dilemma. Either way, if you are unenthusiastic about your topic, or come over as apologetic, then it is unlikely your listeners will pay much attention to your research question and findings.

3. Have a clear structure that is signaled to your listeners with signposts, transitions and pauses. One tried and tested technique is to focus on a specific aspect of your research that speaks to your overall investigation, sometime referred to as ‘let the part tell the whole’. Avoid the trap of telling your listener everything there is to know about your research topic. Two or three main points may be a realistic goal even for a 40 minute presentation. Your paper, after all, will be one of many that your audience will get to hear during the conference.

4. Offer your audience a definite answer to your opening question (this is a great stylistic device as you loop back to your opening).

5. Leave your audience wanting to know more and curious about your future investigations. This will provide a bridge to the ‘question and answer’ section of your presentation.

4. Delivering your presentation

If your paper has a separate written component then use the structure of your paper but do not (unless you absolutely have to) read directly from it. This will, most likely, send your audience to sleep. And they can read the paper at their leisure.

You need to practice presenting your paper and develop a format that works for you. The most common practice is for presenters to use a slide show as their set of prompts. The drawback of this is that you can end up talking to the slides rather than to the audience. Moreover, many presenters have far too many slides with too much detailed information on each slide for the audience to follow. A reasonable ‘rule of thumb’ is that one slide should be at least three minutes of you speaking.

Another technique is to use cue cards with the keys topics written up for each section of the talk. This technique usually results in a more relaxed, informal conversational style. But you need to know your material well to be able to fill in the gaps. There are many fine examples of 20 minutes talks on the web under the ‘Ted Talks’ banner. Watch a few clips to see how these effective communications use eye contacts, gesticulation, humor, change of pace and tone, simple graphics, stories and metaphors or to engage an audience. Finally, when you attend department seminars and conferences, take note of what techniques the presenters you enjoy listening to employ.

Practical tips:

- Check the venue before your talk. You may be in a small, intimate seminar room or a large, impersonal tiered lecture theater. The size and layout of the space gives you clues about projector screens, lecterns, microphones and the practicalities of distributing hand-outs.

- Introduce yourself to the session chairperson, if possible before the session itself.

- Have a plan ‘b’ if there is a technology problem.

- Arrive at the venue in plenty of time and make small talk with the other presenters and early arrivals to your session.

- Smile, take a deep breath before you start, relax and take your time.

- Do not overstay your welcome. If you run over time, this impacts on the presenters coming after you and makes the chairperson’s job much harder.

- If you are asked a question from the floor that you do not understand, politely ask the person to rephrase the question. If you do not know the answer, do not bluff one. A good technique is to suggest that you continue the conversation with the questioner later during the conference.

5. References

Feline, P. (2005). The joy of teaching: a practical guide for new college instructors. University of North Carolina Press: Chapel Hill.

Nguồn: Auckland Uni

[/us]

Hình minh họa: 

GIỚI THIỆU TRÌNH SOẠN THẢO VĂN BẢN LATEX

Header: 
[vn]Giới Thiệu Trình Soạn Văn Bản LATEX[/vn][us]An Introduction to LATEX[/us]

[vn]

Hiện nay, giới học thuật quốc tế đang rất ưa chuộng một chương trình soạn thảo văn bản cấp cao mang tên là Latex. Nó được sử dụng rộng rãi để viết sách, viết báo cho các tòa soạn và tạp chí lớn trên thế giới có lẽ cũng vì tính tiện ích và mỹ thuật. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu vẻ đẹp của chương trình soạn thảo này.

Phân biệt hai thuật ngữ TEX và LATEX

TeX: có thể xem là một ngôn ngữ lập trình, TeX do Donald Knuth phát minh được dùng để chỉ thị cho máy tính làm một công việc mà người dùng muốn. Công việc đó chính là sắp chữ sao cho đẹp và nhất quán.

LaTeX: là một dẫn xuất của TeX, do ông Lamport tạo ra (chữ La là viết tắt tên ông). LaTeX được thiết kế sao cho thuận tiện hơn với mọi người. Nếu TeX dùng 10 dòng lệnh để trình bày một đoạn văn bản sao cho đẹp mắt thì LaTeX chỉ dùng 1 hoặc 3 dòng lệnh.LATEX cho ra bản in chất lượng cực cao cùng cấu trúc văn bản rất logic và đồng bộ, tự động hóa.

Các yếu tố cần thiết để có thể soạn thảo văn bản bằng LATEX

Để có thể soạn thảo thành công một văn bản theo ý muốn bằng LATEX phải cần dùng đến hai yếu tố đó là các bản phân phối phần mềm và trình biên soạn.

Bản phân phối phần mềm phổ biến hiện nay:  MikTeX và TeX Live

Bản phân phối phần mềm (software distribution) được phát hành miễn phí. Mỗi bản phân phối gồm nhiều thành phần, trong đó có 2 thành phần chính là: TeX (và dẫn xuất của nó) và một mô-đun dùng để tạo ra các file PDF, DVI.
Sau đây là một số so sánh giữa MikTeX và TeX Live
MikTeX
- Chỉ dùng trên Windows. Cài đặt đơn giản. Dung lượng nhẹ
- Có trình Package Manager để quản lí (thêm/bớt) các packages
TeX Live
- Dùng được trên tất cả platform. Cài đặt trên Unix đơn giản hơn cài đặt trên Windows
- Package Manager: không có

Trình biên soạn TeX (TeX editor)

hiện nay có: TeX Maker, TeX Studio, WinEdt, VietTeX, TeXpad, Texiteasy... Trình biên soạn cung cấp các công cụ giúp người dùng biên soạn file *.tex một cách thuận tiện. Có thể hình dung như sau: ta hoàn toàn có thể tạo file *.tex bằng Notepad, nhưng để biên dịch ra cho máy tính hiểu và tạo ra các file pdf, ta phải gõ rất nhiều câu lệnh trong Command Windows, như thế mất thời gian. Trong khi dùng trình biên soạn ta chỉ cần nhấn F6 để biên dịch và F7 để xem file pdf. Hơn nữa, trình biên soạn còn giúp gợi ý các câu lệnh ta đang gõ và cung cấp danh sách các ký hiệu toán học thường dùng, rất thuận tiện.

Tùy thuộc vào sở thích của bạn mà mỗi người chọn dùng một trình soạn thảo cho mình. TeX Maker có dung lượng nhẹ, giao diện đơn giản, thân thiện và hoàn toàn có thể thêm các lệnh gợi ý do chính bạn định nghĩa vào đây. TeX Studio lại hỗ trợ rất chi tiết các gợi ý lệnh và nút lệnh. VietTex là trình soạn thảo thuộc bản quyền của thầy Nguyễn Hữu Điển – giảng viên trường Đại học khoa học Tự nhiên Hà Nội, đây là phiên bản Việt hóa, thường xuyên cập nhật đáp ứng theo nhu cầu giảng dạy tại Việt Nam và hiện có hỗ trợ sinh và tạo đề trắc nghiệm rất tốt.
Bạn sẽ phải cài đặt hai thành tố này vào máy của mình. Hướng dẫn sử dụng và cài đặt có ở rất nhiều website và diễn đàn. Chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề này ở những bài viết sau.

Dùng LaTeX có gì hay?

- Văn bản nhất quán: khoảng cách dòng, kích cỡ chữ, màu sắc, cách trình bày,… cho dù qua văn bản khác nó cũng như vậy.
- Hoàn toàn tự động: đánh số chương, tiêu đề mẹ, tiêu đề con, đánh số phương trình, bảng, hình ảnh, tham chiếu,… hoàn toàn tự động.
- Trích dẫn tài liệu tham khảo: tự động và nhất quán, style rất đẹp.
- Tự động sắp xếp hình ảnh, table sao cho phù hợp nhất với văn bản.
- Làm việc với một dự án lớn: cả trăm, cả ngàn trang trong một file.tex dung lượng rất nhỏ, dễ quản lý và điều khiển.
- Tích hợp công thức toán học: công thức toán học tích hợp rất hài hòa với văn bản, đẹp và rõ nét.
- Vẽ hình đẹp: hình vẽ và chữ chú thích trên hình vẽ rất hài hòa với văn bản (cỡ chữ, ko bị vỡ nét khi zoom,…).
- Tạo phông chữ nghệ thuật.
Tuy nhiên bên cạnh đó có một số nhược điểm - Cách học và tiếp cận tốn nhiều thời gian hơn.
- Làm việc chỉ nhờ vào dòng lệnh, giống như lập trình nên thường xảy ra lỗi nhỏ nhặt và tốn thời gian sửa. Những gì bạn thấy không phải là những gì bạn có.

Làm gì khi gặp một lỗi?

Trước nhất ta đọc xem trình biên soạn thông báo gì? Trình biên soạn nhắc ta quên dấu ngoặc } ở dòng 1234 nào đó, hoặc là quên \end{...} ở đâu đó, hoặc thiếu package nào đó. Chỉ việc kiểm tra kĩ đoạn bị lỗi và sửa lại. Nếu trình biên soạn thông báo rõ là thiếu package nào đó thì search ngay từ khóa trên Package Manager và tải ngay những package liên quan (đối với MikTeX). Khi trình soạn thảo thông báo rất nhiều lỗi, nếu để ý thấy các dòng thông báo lỗi trông giống giống nhau thì nhiều khả năng bạn thiếu package đấy.
Đối với những lỗi ta chưa gặp bao giờ, search Google. Nhưng hãy nên đọc hiểu thông báo lỗi, tức là hiểu lỗi này thuộc về package, về syntax hay Runtime Error.

Các địa chỉ trang web hỗ trợ soạn thảo văn bản bằng LATEX

- http://math2it.com: Bài viết và phong cách trình bày rất dễ hiểu
- https://nhdien.wordpress.com/: Rất thiết thực và cập nhật liên tục.
- https://osshcmup.wordpress.com: Đa dạng các tiện dụng của LATEX
- https://tex.stackexchange.com: Mọi thắc mắc đều được giải thích cặn cẽ bởi các chuyên gia
- https://www.ctan.org/ : Chứa mọi tài nguyên của TEX
- https://en.wikipedia.org/wiki/LaTeX: Từ điển tra cứu mọi thứ về TEX

Nguyễn Lê Hương, giảng viên bộ môn Toán

[/vn] [us]

Currently, international academics prefer using a text editor called Latex. It is used extensively in writing books and magazines for major publishers and magazines around the world, perhaps for its convenience and fine art. Let's explore the beauty of this editorial program.

Distinguish TEX and LATEX

TeX: Can be considered as a programming language, TeX was invented by Donald Knuth and it is used to instruct the computer to do what users want. The product is really beautiful and consistent.
LaTeX: is a derivative of TeX, which is created by Mr. Lamport (La is his initial name). LaTeX is designed to be more convenient to everyone. If TeX uses 10 lines to display beautiful text, LaTeX only uses one or three lines of code. LATEX delivers high quality prints with very logical and synchronous text structure, automation.

Elements needed to compose documents using LATEX

In order to successfully edit a text with LATEX, two components are needed: software distributions and compilers.

Current popular software distributions: MikTeX and TeX Live.

The software distribution is free. Each distribution consists of several components, two of which are TeX (and its derivatives) and one module for creating PDFs, DVIs.
Here are some comparisons between MikTeX and TeX Live
MikTeX
- Use only on Windows. Simple installation. Lightweight
- Package Manager to manage (add / remove) packages
TeX Live
- Can be used on all platforms. Installing on Unix is ​​simpler than installing on Windows
- Package Manager: none

Popular TeX editor

includes TeX Maker, TeX Studio, WinEdt, VietTeX, TeXpad, Texiteasy ... The editor provides tools to help users compile * .tex files conveniently. It is possible to create a * .tex file with Notepad, but to compile for the computer to understand and generate the pdf file, we must type a lot of commands in the Windows Command, so it is a waste of time. While using the editor, just press F6 to compile and F7 to view the pdf file. In addition, the editor helps to suggest the commands we are typing and provides a list of commonly used mathematical symbols, which are very convenient.

Depending on your preference, each person chooses to use an editor for himself or herself. TeX Maker is lightweight, simple and user-friendly interface, and you can add the custom commands you define here. TeX Studio supports very detailed command prompt and command buttons.
VietTex is a text editor under the copyright of Nguyen Huu Dien, a lecturer at Hanoi University of Science. This is a Vietnamese version that is regularly updated to meet the needs of teaching in Vietnam. It is very cool to make multichoice questions.
You must install these two components into your machine. Manuals and installations are available in many websites and forums. We will cover this in the following articles.

How good is LaTeX?

- Text consistency: line spacing, text size, color, layout, etc., though it's the same text.
- Fully automatic: chapter numbering, parent titles, subheadings, equation numbering, tables, images, references, ... fully automatic.
- Quote of reference: automatic and consistent, very nice style.
- Automatically arrange images and tables to best fit the text.
- Work with a large project: hundreds, thousands of pages in a very small *.tex file, easy to manage and control.
- Integrated math formulas: the mathematical formula integrates very well with the text, beautiful and clear.
- Draw beautiful pictures: drawings and text on the drawing are very harmonious with the text (font size, not broken when zoomed, ...).
- Create art fonts.
However, there are some downsides
- Learning and approaching are very time-consuming.
- Working with the command line, just like programming, so it's a little buggy and time- consuming to fix. What you see is not what you have.

What to do when you encounter an error?

First, we read what the editor says. The compiler forgot to put brackets in line 1234, either forgot \ end {...} somewhere, or missing some package. Just check the error and fix it. If the editor informs you that there is a missing package, then search for the package manager and download the corresponding package (for MikTeX). When the editor reports a lot of errors, if you notice that the error message lines look the same, you likely miss the package.
For the error we have never met, search Google. But read the error message to know the error is package or syntax or Runtime Error.

Website addresses that support text editing with LATEX

http://math2it.com: Article and presentation style is very easy to understand
https://nhdien.wordpress.com/: Very practical and constantly updated.
https://osshcmup.wordpress.com: Diverse utility of LATEX
https://tex.stackexchange.com: All inquiries are thoroughly explained by experts
https://www.ctan.org/: Contains all of TEX's resources
https://en.wikipedia.org/wiki/LaTeX: Dictionary of all things about TEX

Nguyen Le Huong, lecturer of Mathematics department

[/us]

Hình minh họa: 

GIỚI THIỆU AUTOCAD

Header: 
[vn]Giới Thiệu AUTOCAD[/vn][us]An Introduction to AUTOCAD[/us]

[vn]

CAD là chữ viết tắt của Computer Aided Design hoặc Computer Aided Draft. Phần mềm đầu tiên của CAD là Sketchpad xuất hiện vào năm 1962 được viết bởi Ivan Sutherland thuộc trường kỹ thuật Masachusetts.
Sử dụng phần mềm CAD có thể vẽ, thiết kế các bản vẽ hai chiều ( 2D hoặc chức năng drafting), thiết kế mô hình 3D (3D-chức năng Modeling), tính toán kết cấu bằng phương pháp phần tử hữu hạn (FEA – chức năng Analysis).
Các phần mềm CAD có 3 đặc điểm nổi bật sau:
- Tính chính xác vì công nghệ CAD dựa trên máy tính nên nó cung cấp khả năng chính xác hơn so với phương pháp phác thảo và vẽ thiết kế bằng tay. Trong hệ thống CAD các thành phần đồ họa được lưu dưới dạng dữ liệu số với độ chính xác cao (Auto CAD lưu trữ với giá trị 14 số).
- Năng suất cao nhờ các lệnh sao chép. Ngoài ra CAD còn tạo ra các mối liên kết giữa các bản vẽ thành phần với bản vẽ tổng thể, khi thay đổi nội dung của bản vẽ thành phần thì bản vẽ tông thể thay đổi theo.
-Dễ dàng trao đổi dữ liệu với các phần mềm khác. Vì phần mềm được viết sử dụng thông tin kỹ thuật số và có thể được viêt cho cùng hệ điều hành máy tính hoặc tương tự, cho nên có thể tạo ra các chương trình phần mềm có thể dùng chung dữ liệu hoặc thậm chí có thể nối liền nhau, có thể xuất hiện cùng một lúc trên màn hình. Ví dụ chương trình word có thể tạo ra một văn bản đưa vào trong bản vẽ và ngược lại. Các tập tin CAD có thể được liên kết với bảng tính hoặc cơ sở dữ liệu với cách như vậy và khi thay đổi một giá trị trong bảng tính hoặc văn bản trên một cơ sở dữ liệu có thể tự động thay đổi tương ứng trên bản vẽ hoặc ngược lại.
Tóm lại: CAD cung cấp nhiều khả năng để tăng độ chính xác, tính hiệu quả và tính kết nối.
AutoCAD là phần mềm của hãng AutoDesk, được công bố rộng rãi năm 1982 là một trong những phần mềm CAD đầu tiên. AutoCAD dùng để thực hiện các bản vẽ kỹ thuật trong các ngành: Xây dựng, cơ khí, kiến trúc, điện, bản đồ,…

Lê Thị Mai, giảng viên bộ môn Hình họa - Vẽ kỹ thuật

[/vn] [us]

CAD stands for Computer Aided Design or Computer Aided Draft. The first CAD software is Sketchpad, which appeared in 1962 and was written by Ivan Sutherland at the Massachusetts Institute of Technology.
CAD software can draw and design two-dimensional drawings (2D or drafting function), 3D modeling (3D-modeling function). Texture calculation uses Finite Element Method - Analysis function.
The CAD software has three outstanding features:
-Accuracy is based on computer-based CAD technology, so it provides more accurate capabilities than manual drafting and drawing methods. In CAD systems graphic components are stored in digital form with high accuracy (Auto CAD stores up to 14 digits).
- It is high productivity by copying commands. CAD also creates links partial drawings and general drawings. When we modify the contents of the partial drawings the general drawings change accordingly.
- It easily exchanges data with other software. Because software is written uses digital information and it can be written for the same computer operating system or similar. It is possible to create software programs that share data or even possibly connected together.
- They can appear simultaneously on the screen. For example, word program can create a text that is able to be inserted into a drawing and vice versa. CAD files can link to a spreadsheet or database in such a way and when a value change in the spreadsheet or text on a database can be automatically changed on the corresponding drawing or vice versa.
In a nutshell: CAD offers many possibilities for increasing accuracy, efficiency and connectivity.
AutoCAD, AutoDesk is used the most widely, was released in 1982 and it is one of the first CAD software. AutoCAD is used to make engineering drawings in the fields of: Building, Mechanical, Architectural, Electrical, Mapping, ...

 

Le Thi Mai, lecturer of Geometry - Technical Drawings department

[/us]

Hình minh họa: