Quy trình đăng báo trên các tạp chí quốc tế

[vn]

Các bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế là kết quả của quá trình nghiên cứu nghiêm túc trên một vấn đề khoa học, xã hội được quan tâm. Trước hết, tác giả cần xác định rõ loại bài báo mình định viết trước khi tiến hành các bước cần thiết để nộp tới các tạp chí uy tín. Có 4 loại báo cơ bản:

1. Dạng thư hay những sự thông báo ngắn: được mục tiêu cho việc công bố những tiến bộ nguyên bản, đáng kể mà không có quá nhiều dữ liệu hay chi tiết.

2. Bài báo phê bình: tổng kết lại những sự phát triển gần đây trên một vấn đề cụ thể mà không giới thiệu dữ liệu mới.

3. Bài báo đầy đủ: bao gồm lượng dữ liệu, những sự phát triển và kết quả đáng kể.

4. Bài báo nghiên cứu: đưa ra những kết quả nghiên cứu, bao gồm dữ liệu, phần mềm, phương pháp, videos, và là những bài báo có thể trích dẫn.

Quy trình đăng báo tới các tạp chí quốc tế uy tín thường gồm các bước sau:

1. Tìm đúng tạp chí phù hợp với chủ đề nghiên cứu trong bài báo. Tác giả cũng cần quan tâm đến các chỉ số đánh giá của tạp chí.

- CiteScore: số lượng các trích dẫn trung bình được nhận trong một năm từ tất cả các bài báo được xuất bản trong tạp chí đó trong thời gian 3 năm.

- SNIP: các sự trích dẫn được lấy trung bình theo quy tắc. Nếu SNIP > 1 tức là tạp chí được trích dẫn nhiều hơn trung bình trong lĩnh vực đó.

- SJR: uy tín trung bình mỗi bài báo, phụ thuộc vào uy tín của toàn tạp chí.

- IF: số trích dẫn trung bình ở mỗi bài báo.

2. Chuẩn bị bài báo

Các tác giả cần chuẩn bị các mục sau đây một cách cẩn thận trước khi nộp bài báo tới tạp chí.

- Tiêu đề: ngắn gọn, hấp dẫn, phản ánh nội dung bài báo rõ ràng, tránh từ viết tắt và biệt ngữ

- Tác giả: chỉ đề tên các tác giải có đóng góp tới nghiên cứu trong bài báo.

- Từ khóa: chọn những từ khóa quan trọng, chính xác làm tăng cơ hội của bài báo được tìm thấy bởi các nhà nghiên cứu khác.

- Bản tóm tắt: tổng kết các vấn đề hay mục tiêu nghiên cứu, biên pháp, kết quả và kết luận trong một số lượng từ nhất định được quy định bởi tạp chí.

- Nội dung của bài báo: bao gồm các mục giới thiệu, biên pháp, kết quả, thảo luận và kết luận của nghiên cứu, lời cảm ơn, sự tham khảo.

Ngôn ngữ trong bài báo nên chính xác, ngắn gọn, tránh những từ không cần thiết, nên sử dụng cách viết chủ động và dùng thời phù hợp. Bài báo cần đảm bảo tính đạo đức trong nghiên cứu, không có sự xung đột về lợi ích, sự mâu thuẫn giữa các tác giả, sự đạo văn, việc nộp bài báo tới nhiều tạp chí cùng một lúc, sự gian lận nghiên cứu và việc chia nhỏ nghiên cứu thành nhiều bài báo khác nhau.

3. Nộp và sửa lại bài báo

Một khi tác giả đã kiểm tra bản thảo cẩn thận, tác giả đã sẵn sàng để nộp bài báo tới các tạp chí.

- Các bản thảo được nộp online tới ban biên tập tạp chí.

- Sự phê bình: mỗi bản thảo được kiểm tra sự đạo văn và được đánh giá xem sự phù hợp với mục tiêu của tạp chí. Sau đó, ban biên tập tạp chí sẽ chỉ định người thẩm định tính khoa học trong bài báo.

Nhiệm vụ của người thẩm định là xác định tính căn cứ, ý nghĩa và tính nguyên bản của công việc, gợi ý những sự cải thiện tới bản thảo và nghiên cứu. Qua đó, ban biên tập sẽ chấp nhận sự chỉnh sửa hoặc từ chối một bản thảo.

Ban biên tập sẽ đề nghị chuyển bản thảo tới một tạp chí khác nếu cảm thấy bài báo đó phù hợp tới một tạp chí khác hơn.

Sau khi nộp bản thảo, tác giả có thể theo dõi tình trạng bài báo thông qua hệ thống, sử dụng số định danh được cung cấp qua email.

4. Sau khi được chấp nhận: bài báo được in thử, chia sẻ link và in ấn.

- Bài báo được đăng trên ScienceDirect và đươc chỉ định ngày xuất bản sau đó.

- Mỗi tác giả được nhận một link cá nhân để chia sẻ bài báo của họ trên ScienceDirect miễn phí trong 50 ngày.

Một số tạp chí cung cấp các bản in ấn, một bản chính xác của bài báo được xuất bản trên cả giấy lẫn file PDF.

5. Bản quyền

Khi tác giả đăng bài trên tạp chí, tức là tác giải đã đồng ý thỏa thuận hợp pháp về bản quyền, những quyền và nghĩa vụ nhất định và cam kết tuân theo.

[/vn][us]

The articles published on scholarly journals are the results of serious research process on an interested scientific or social issue. First of all, authors need to determine which type of journals is suitable for the article before submitting. There are 4 types of research articles:

1. Letters or short communications: are intended for the quick and early communication of significant or original advances, without too much data or detail.

2. Review papers: summarize recent developments on a specific topic, without introducing new data.

3. Full articles: contain significant data, detail, developments and outcomes.

4. Research elements: publish research output, such as data, software, methods, videos and much more, in brief, citable articles.

Publishing process to scholarly journals contains the following steps:

1. Find the right journal. Author needs to take journal’s impact metrics into consideration.

- CiteScore: average number of citations received in a calendar year by all items published in that journal in the preceding three years.

- SNIP: citations relative to average for discipline; SNIP > 1 means journal is cited more than average for field.

- SJR: average prestige per publication, depending on the SJR of the citing journal.

- IF: average citations per publication.

2. Prepare your paper

Authors need to carefully prepare the following items before submitting article to journal.

- Title: short, enticing, reflect article’s content clearly, avoid using abbreviations and jargon.

- Author: credit only authors who have made an intellectual contribution to the research.

- Keyword list: choosing important and accurate words increases the chances of article being found by other researchers.

- Abstract: summarize the problem or objective of research, method, results and conclusions in a certain number of words assigned by journal.

- The content of article: contains introduction, methodology, results, discussions and conclusions, acknowledgements, references.

Language in article should be accurate, concise, avoid unnecessary words, use active writing and appropriate tense. Article needs to ensure publishing ethics, including authorship disputes, conflict of interest, plagiarism, simultaneous submission, research fraud, salami slicing.

3. Submit and revise your paper

Once you have checked your manuscript, you are ready to submit it to the journal editor.

- Manuscripts are submitted online to journal editor.

- Peer review: each manuscript is checked for plagiarism and assessed carefully to determine if it fits the aims and scope of the journal. Then, the journal editor will appoint reviewers.

Reviewers help determine the validity, significance and originality of the work, and can suggest improvements to the manuscript and research. On their recommendation, editors will accept with revisions or reject a manuscript.

The editor will offer article transfer service if they feel your article fits better with another journal.

After submission, authors can follow the status of article in the editorial system, using a reference number received by email.

4. After acceptance: article in press, proofing, share link and offprints

- Accepted articles are published online on ScienceDirect as an ‘article in press’ and assigned an issue at a later date.

- Each author is received a personalized link that provides 50 days’ free access to the final published version of their article on ScienceDirect.

- Some journals provide offprints; an exact copy of the article published either on paper or as a PDF.

5. Copyright

When you publish an article on journal, you enter into a legal agreement to certain rights and responsibilities, and promise to act in a legally-sound manner.

[/us]

Header: 
[vn]Quy trình đăng báo trên các tạp chí quốc tế[/vn][us]How to publish in scholarly journals[/us]
Hình minh họa: 

Bài báo khoa học, tập san và cơ chế bình xét

[vn]

1. Bài báo khoa học

Báo khoa học là một bài báo có nội dung khoa học được công bố trên một tập san khoa học đã qua hệ thống bình duyệt của tập san. Giá trị khoa học của một bài báo tùy thuộc vào nội dung của bài báo. Bởi vì báo cáo khoa hoc xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, giá trị của chúng cũng không nhất thiết đồng nhất. Sau đây là một số bài báo khoa học thông thường và tôi xếp loại theo thang giá trị (cao nhất đến thấp nhất).

Thứ nhất là những bài báo mang tính cống hiến nguyên thủy. Đây là những bài báo khoa học nhằm báo cáo kết quả một công trình nghiên cứu, hay đề ra một phương pháp mới, một ý tưởng mới, hay một cách diễn dịch mới. Có khi một công trình nghiên cứu có thể có nhiều phát hiện mới, và cần phải có nhiều bài báo nguyên thủy để truyền đạt những phát hiện này. Một công trình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên hay một công trình dịch tễ học lớn có thể có đến hàng trăm bài báo nguyên thủy. Cống hiến mới cho khoa học không chỉ giới hạn trong phát hiện mới, mà có thể bao gồm cả những phương pháp mới để tiếp cận một vấn đề cũ, hay một cách diễn dịch mới cho một phát hiện xa xưa. Do đó các bài báo khoa học ở dạng này cũng có thể xem là những cống hiến nguyên thủy. Tất cả các bài báo thể hiện những cống hiến nguyên thủy, trên nguyên tắc, đều phải thông qua hệ thống bình duyệt trước khi được công bố. Một bài báo không hay chưa qua hệ thống bình duyệt chưa thể xem là một “bài báo khoa học”.

Thứ hai là những bài báo nghiên cứu ngắn. Đây là những bài báo rất ngắn (chỉ khoảng 600 đến 1000 chữ, tùy theo qui định của tập san) mà nội dung chủ yếu tập trung giải quyết một vấn đề rất hẹp hay báo cáo một phát hiện nhỏ nhưng quan trọng. Những bài báo này vẫn phải qua hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh, nhưng mức độ rà soát không cao như các bài báo cống hiến nguyên thủy. Phần lớn những bài báo công bố trên tập san Nature (một tập san uy tín vào hàng số 1 trong khoa học) là “Letters”, nhưng thực chất đó là những bài báo nguyên thủy có giá trị khoa học rất cao, chứ không phải những lá thư thông thường.

Thứ ba là những báo cáo trường hợp. Nội dung của nó xoay quanh chỉ một (hay một số rất ít) bệnh nhân đặc biệt. Đây là những bệnh nhân có những bệnh rất hiếm (có thể 1 trên hàng triệu người) và những thông tin như thế cũng thể hiện một sự cống hiến tri thức cho y học. Những báo cáo trường hợp này cũng qua bình duyệt, nhưng nói chung không khó khăn như những bài báo nguyên thủy.

Thứ tư là những bài điểm báo. Có khi các tác giả có uy tín trong chuyên môn được mời viết điểm báo cho một tập san. Những bài điểm báo không phải là những cống hiến nguyên thủy. Bài điểm báo thường tập trung vào một chủ đề hẹp nào đó mà tác giả phải đọc tất cả những bài báo liên quan, tóm lược lại, và bàn qua về những điểm chính cũng như đề ra một số đường hướng nghiên cứu cho chuyên ngành. Những bài điểm báo thường không qua hệ thống bình duyệt, hay có qua bình duyệt nhưng không nghiêm chỉnh như những bài báo khoa học nguyên bản.

Thứ năm là những bài xã luận. Có khi tập san công bố một bài báo nguyên thủy quan trọng với một phát hiện có ý nghĩa lớn, ban biên tập có thể mời một chuyên gia viết bình luận về phát hiện đó. Xã luận cũng không phải là một cống hiến nguyên thủy, do đó giá trị của nó không thể tương đương với những bài báo nguyên thủy. Thông thường, các bài xã luận không qua hệ thống bình duyệt, mà chỉ được ban biên tập đọc qua và góp vài ý nhỏ trước khi công bố.

Thứ sáu là những thư cho tòa soạn. Nhiều tập san khoa học dành hẳn một mục cho bạn đọc phản hồi những bài báo đã đăng trên tập san. Đây là những bài viết rất ngắn (chỉ 300 đến 500 chữ, hay một trang - tùy theo qui định của tập san) của bạn đọc về một điểm nhỏ nào đó của bài báo đã đăng. Những thư này thường phê bình hay chỉ ra một sai lầm nào đó trong bài báo khoa học đã đăng. Những thư bạn đọc không phải qua hệ thống bình duyệt, nhưng thường được gửi cho tác giả bài báo nguyên thủy để họ đáp lời hay bàn thêm. Tuy nói là thư bạn đọc, nhưng không phải thư nào cũng được đăng, nếu không nêu được vấn để một cách súc tích và có ý nghĩa.

Và sau cùng là những bài báo trong các kỉ yếu hội nghị. Trong các hội nghị chuyên ngành, các nhà nghiên cứu tham dự hội nghị và muốn trình bày kết quả nghiên cứu của mình thường gửi bài báo để đăng vào kỉ yếu của hội nghị. Có hai loại bài báo trong nhóm này: nhóm 1 gồm những bài báo ngắn và nhóm 2 gồm những bản tóm lược. Những bài báo thường ngắn (khoảng 5 đến 10 trang), mà nội dung chủ yếu là báo cáo sơ bộ những phát hiện hay phương pháp nghiên cứu mới. Tùy theo hội nghị, đại đa số những bài báo dạng này không phải qua hệ thống bình duyệt, hay có qua nhưng cũng không nghiêm chỉnh như hệ thống bình duyệt của những bài báo nguyên thủy. Cần nhấn mạnh rằng đây không phải là những bài báo khoa học bởi vì chúng chưa xuất hiện trên các tập san khoa học và qua bình duyệt nghiêm chỉnh.

2. Tập san khoa học và hệ số ảnh hưởng

Trong hoạt động khoa bảng, các tập san khoa học là những tờ báo xuất bản định kì, có thể là mỗi tuần một lần, mỗi tháng, hay mỗi 3 tháng, thậm chí hàng 6 tháng một lần. Mục tiêu chính của các tập san khoa học là chuyên chở thông tin đến giới nghiên cứu khoa học nhằm từng bước phát triển khoa học. Các tập san khoa học còn là những diễn đàn khoa học để giới khoa học có cùng chuyên môn trao đổi và học hỏi với nhau. Phần lớn các tập san khoa học rất chuyên sâu về một bộ môn khoa học như American Heart Journal (chuyên về tim), American Journal of Epidemiology (dịch tễ học), Bone (xương), Blood (máu), Neurology (thần kinh học) … nhưng một số tập san như Science, Nature, Proceedings of the National Academy of Science USA … công bố tất cả nghiên cứu từ bất cứ bộ môn khoa học nào.

Trên thế giới ngày nay, có khoảng 3000 tập san y sinh học được công nhận, và con số vẫn tăng mỗi năm. Tiêu chuẩn mà các tập san này dựa vào để công bố hay không công bố một bài báo khoa học cũng rất khác nhau. Một số tập san như Science, Nature, Cell, hay Physical Reviews chỉ công bố những bài báo khoa học mà ban biên tập cho rằng thể hiện những cống hiến cơ bản, những phát hiện quan trọng, hay những phương pháp mới có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong cộng đồng khoa học. Do đó, các tập san này từ chối công bố hầu hết các bài báo khoa học gửi đến cho họ. Theo một báo cáo gần đây các tập san này chỉ công bố khoảng 1% những bài báo họ nhận được hàng năm. Trong y học, các tập san hàng đầu như New England Journal of Medicine, Lancet, và JAMA từ chối khoảng 95% các bài báo gửi đến, và chỉ công bố những bài báo quan trọng trong y khoa.

Giá trị khoa học của một bài báo do đó không chỉ tùy thuộc vào nội dung, mà tập san công bố cũng đóng một vai trò quan trọng. Chẳng hạn như trong y học một bài báo trên các tập san lớn như New England Journal of Medicine (NEJM) hay Lancet có giá trị hơn hẳn một bài báo trên các tập san y học của Pháp hay Singapore Medical Journal. Điều này đúng bởi vì những công trình nghiên cứu quan trọng thường được công bố trên các tập san lớn và có nhiều người đọc, nhưng quan trọng hơn hết là những tập san này có một hệ thống bình duyệt nghiêm túc.

Uy tín và giá trị của một tập san thường được đánh giá qua hệ số ảnh hưởng (Impact Factor hay IF). IF được tính toán dựa vào số lượng bài báo công bố và tổng số lần những bài báo đó được tham khảo hay trích dẫn (citations). Theo định nghĩa hiện hành, IF của một tập san trong năm là số lần tham khảo trung bình các bài báo được công bố trên tập san trong vòng 2 năm trước. Chẳng hạn như trong 2 năm 1981 và 1982, Tập san Lancet công bố 470 bài báo khoa học nguyên thủy; trong năm 1983 có 10011 bài báo khác trên các tất cả các tập san (kể cả Lancet) có tham khảo hay trích dẫn đến 470 bài báo đó; và hệ số IF là 10011 / 470 = 21.3. Nói cách khác, tính trung bình mỗi bài báo nguyên thủy trên tờ Lancet có khoảng 21 lần được tham khảo đến hay trích dẫn.

Vì yếu tố thời gian của việc tính toán, cho nên hệ số IF cũng thay đổi theo thời gian và cách xếp hạng tập san cũng thay đổi theo. Chẳng hạn như vào thập niên 1990s British Medical Journal từng nằm trong nhóm các tập san hàng đầu trong y học, nhưng đến đầu thế kỉ 21 tập san này bị xuống cấp nghiêm trọng. Trong y sinh học, có một số tập san y học thuộc vào hàng “top 10” như sau (theo số liệu năm 2003): Annual review of immunology (52.28), Annual review of biochemistry (37.65), Physiological reviews (36.83), Nature reviews Molecular cell biology (35.04), New England Journal of Medicine (34.83), Nature reviews Cancer (33.95), Nature (30.98), Nature medicine (30.55), Annual review of neuroscience (30.17), Science (29.16), Cell (26.63), Nature genetics (26.49), Lancet (18.32), Journal of clinical investigation (14.30)…

Do đó, tập san nào có hệ số IF cao cũng được hiểu ngầm là có uy tín cao và ảnh hưởng cao. Công bố một bài báo trên tập san có hệ số IF cao có thể đồng nghĩa với mức độ quan trọng và tầm ảnh hưởng của bài báo cũng cao. Một bài báo trên một tập san có hệ số IF thấp nhưng có thể được trích dẫn nhiều lần. Chẳng hạn như một bài báo trên tập san Behavior Genetics (IF < 2), nhưng được trích dẫn và tham khảo hơn 10000 lần trong 20 năm sau đó!

Hệ số IF vẫn được sử dụng như là một thước đo chất lượng.

3. Cơ chế bình duyệt

Để hiểu cơ chế bình duyệt, chúng ta hay xem sơ qua về qui trình công bố một bài báo khoa học như sau. Sau khi tác giả gửi bản thảo của bài báo đến một tập san chuyên môn, tổng biên tập hay phó tổng biên tập của tập san sẽ xem lướt qua bài báo và quyết định bài báo có xứng đáng được gửi ra ngoài để bình duyệt hay không. Nếu không xứng đáng, tổng biên tập sẽ báo ngay (trong vòng 1 tháng) cho tác giả biết là bài báo không được bình duyệt. Nếu thấy bài báo có giá trị và cần được bình duyệt, tổng biên tập sẽ gửi bản thảo cho 3 (hoặc có khi 4) người bình duyệt.

Những người bình duyệt là những chuyên gia, giáo sư có cùng chuyên môn với tác giả và am hiểu về vấn đề mà bài báo quan tâm. Tác giả sẽ không biết những người này là ai, nhưng những người bình duyệt thì biết tác giả là ai vì họ có toàn bộ bản thảo. Những người bình duyệt sẽ đọc và đánh giá bài báo dựa theo những tiêu chí thông thường như mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết quả đã được phân tích, trình bày dữ kiện, phần thảo luận, phần tham khảo, ngôn ngữ bài báo và văn chương ... Nói tóm lại là họ xem xét toàn bộ bài báo, và viết báo cáo cho tổng biên tập. Họ có thể đề nghị tổng biên tập nên chấp nhận hay từ chối đăng bài báo. Tuy quyết định cuối cùng là của tổng biên tập, nhưng thông thường chỉ một người bình duyệt đề nghị từ chối bài báo thì bài báo sẽ không được đăng. Giai đoạn này tốn khoảng 1 đến 4 tháng. Sau khi đã nhận được báo cáo của người bình duyệt, tổng biên tập sẽ chuyển ngay cho tác giả. Tùy theo đề nghị của những người bình duyệt, tổng biên tập có thể cho tác giả một cơ hội để phản hồi những phê bình của người bình duyệt, hay từ chối đăng bài. Nếu có cơ hội phản hồi, tác giả phải trả lời từng phê bình một của từng người bình duyệt. Bài phản hồi phải được viết như một báo cáo, và tất cả những thay đổi trong bài báo tác giả phải báo cho tập san biết. Giai đoạn này tốn từ 1 đến 3 tháng.

Nói chung một bài báo từ lúc nộp bài cho đến lúc xuất hiện trên mặt giấy – nếu mọi bình duyệt và phản hồi đều trôi chảy – tốn khoảng 9 tháng đến 12 tháng. Bởi vì thời gian quá lâu như thế, cho nên một số tác giả có khi quyết định tự công bố trước dưới dạng sơ bộ để chia sẻ với đồng nghiệp. Ngày nay, với sự tiến bộ phi thường của công nghệ thông tin và internet, nhiều tập san đã có thể công bố ngay bài báo trên hệ thống internet (trước khi in) nếu bài báo đã qua bình duyệt và được chấp nhận cho công bố. Một số tập san còn hoạt động hoàn toàn trên hệ thống internet mà không phải qua hình thức in ấn gì cả.

Cơ chế bình duyệt là một cơ chế có mục đích chính là thẩm định và kiểm tra các bài báo khoa học trước khi chấp nhận cho công bố trên một tập san khoa học. Cơ chế này còn được ứng dụng trong việc duyệt những đơn xin tài trợ cho nghiên cứu tại các nước Tây phương. Đây là một cơ chế hay và công bằng, bởi vì những người duyệt bài hay công trình nghiên cứu là những người có cùng chuyên môn, họ chính là những người có thẩm quyền và khả năng đánh giá chất lượng của công trình nghiên cứu.

4. Cấu trúc một bài báo khoa học

Phần lớn các tạp chí khoa học ở Mỹ đều áp dụng một dạng thức chuẩn cho các bài báo khoa học thuộc loại cống hiến nguyên thuỷ bao gồm những mục sau:

a. Tựa bài: thường từ 10 –15 từ (có tạp chí còn rút ngắn xuống dưới 10 từ), phản ánh nội dung chính của bài viết. Một tựa bài tốt không phải nhằm mục đích lôi cuốn hấp dẫn độc giả mà là đề cập thẳng vấn đề muốn giải quyết và dùng những từ chủ yếu để những ai nghiên cứu trong cùng một lĩnh vực có thể nhận biết được. Sau tựa bài là tên tác giả, có tạp chí ghi chú chức danh, học hàm học vị, có tạp chí không nhưng cho biết nơi làm việc, địa chỉ email và còn ghi tên người biên tập, ngày nhận bài và ngày chấp thuận đăng.

b. Tóm tắt: giúp độc giả nhận biết bài viết có phù hợp với đề tài mình họ đang quan tâm không. Phần này tóm tắt ngắn gọn (từ 100 đến 200 từ) mục đích của bài viết, dữ liệu trình bày và kết luận chính của tác giả. Có tạp chí (Nature và Science) xem phần này như lời giới thiệu ngắn về bài viết.

c. Giới thiệu: Trong phần này, tác giả xác định đề tài nghiên cứu, phác thảo mục tiêu nghiên cứu và cung cấp cho độc giả đầy đủ cơ sở khoa học để hiểu biết phần còn lại của bài viết. Cần chú ý giới hạn những kiến thức cơ sở này trong các thử nghiệm của tác giả. Mục này sẽ đạt yêu cầu nếu trả lời được những câu hỏi như: (1) Lý do thực hiện nghiên cứu này?, (2) Những kiến thức nào đã có trước về đề tài này?, (3) Mục đích chính của nghiên cứu là gì?

d. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: Mục này còn được gọi là dữ liệu thử nghiệm hay cơ sở lý thuyết. Mục này khó viết nhất. Tác giả sẽ phải trả lời những câu hỏi sau: (1) Dữ liệu nào đã sử dụng? (2) Chúng được sử dụng như thế nào? (3) Địa điểm và thời gian hoàn thành thử nghiệm?

e. Kết quả: Mục này tóm tắt những kết quả thử nghiệm và không đề cập đến ý nghĩa của chúng. Dữ liệu được trình bày theo bảng biểu, đồ thị hình vẽ, hình ảnh … Những dữ liệu đã ghi theo bảng không nên trình bày lại theo hình vẽ hay biểu đồ.

f. Diễn giải và Phân tích kết quả: Mục này nhằm: (1) Diễn giải phân tích kết quả, những ưu điểm và hạn chế, (2) Mối liên hệ giữa kết quả nghiên cứu của tác giả với những phát hiện khác trong các nghiên cứu trước đó. Điều này cho thấy đóng góp của tác giả bổ sung cho lý thuyết và kiến thức, hay điều chỉnh những sai sót của các đề tài nghiên cứu trước đó.

g. Phần cảm ơn hay Tài liệu tham khảo: Người viết cảm ơn những người đã cộng tác nghiên cứu với mình và liệt kê tất cả tài liệu đã trích dẫn trong bài viết.

5. Khái niệm về ISI

ISI là tên viết tắt của Institute for Scientific Information. ISI được thành lập bởi Eugene Garfield, một nhà khoa học người Mỹ, vào năm 1960 và sau đó được sáp nhận vào tập đoàn Thomson Reuters. ISI thống kê, đánh giá và xếp hạng hàng nghìn tạp chí khoa học thuộc hầu hết các lĩnh vực tạo thành một bộ cơ sở dữ liệu thông tin khoa học đáng tin cậy với nhóm:

- SCI (Science Citation Index) có 3773 tạp chí thuộc 100 ngành.

- SCIE (Science Citation Index Expanded với 8207 tạp chí thuộc 150 ngành.

Các tạp chí thuộc SCI được đánh giá cao hơn các tạp chí thuộc SCIE (mở rộng).

- SSCI (Social Sciences Citation Index) gồm 2697 tạp chí và 3500 công trình của 50 ngành.

- A&HCI (Art and Humanities Citation Index) gồm 1470 tạp chí và 6000 công trình.

Đây là những tạp chí thuộc lĩnh vực Nghệ thuật, Khoa học Xã hội và Nhân văn.

- CPCI (Conference Proccedings Citation Index) gồm 110000 tuyển tập hội nghị.

Danh sách các tạp chí uy tín của ISI

The Institute for Scientific Information (ISI) được biết đến như Thomson ISI và bây giờ là một phần của Thomson Reuters, chuyên cung cấp các dịch vụ cơ sở dữ liệu trích dẫn. Cơ sở dữ liệu trích dẫn ISI bao gồm hơn 14.000 tạp chí khoa học, trong đó có các chỉ số trích dẫn để theo dõi liên tục qua các năm. ISI xuất bản hàng năm Journal Citation Reports liệt kê yếu tố tác động cho mỗi tạp chí mà ISI theo dõi. Do đó khi tìm kiếm các tạp chí có uy tín, người nghiên cứu có thể truy cập Master Journal List ở đây: http://ip-science.thomsonreuters.com/mjl/#journal_lists

Danh sách các tạp chí uy tín của Scopus

Scopus là một hệ cơ sở dữ liệu có uy tín, gồm tóm tắt và trích dẫn các bài báo khoa học với khoảng gần 22.000 đề mục từ hơn 5.000 nhà xuất bản, trong đó 20.000 là tạp chí chuyên ngành trong các ngành khoa học khoa học, kỹ thuật, y tế, và xã hội. Nhà xuất bản Elsevier sở hữu Scopus và có cho đăng ký sử dụng trực tuyến. Chi tiết danh sách tên các tạp chí có thể tham khảo ở liên kết sau: http://www.elsevier.com/journals/title/a .

Cuối cùng, danh mục 20.000 tạp chí này cũng được phân hạng thành 4 nhóm bằng nhau (quarter), mỗi nhóm có khoảng 5000 tạp chí, căn cứ trên chỉ số IF. Rõ ràng, nếu tạp chí ở đầu quarter 1 thì uy tín hơn nhiều so với tạp chí ở cuối quarter 4.

Danh mục ISI và Scopus được cập nhật thường xuyên, 6 tháng hoặc 1 năm 1 lần.

6. Một số thước đo đánh giá nhà khoa học

Trong phần này, người viết sẽ giới thiệu hai chỉ số cơ bản và thường được sử dụng để đánh giá các công trình nghiên cứu và đánh giá các nhà khoa học.

a. Chỉ số trích dẫn (Citation Index)

Chỉ số trích dẫn được Garfield đưa ra vào năm 1955, đó là toàn bộ số lần một bài báo được trích dẫn trong các tài liệu khác. Đây là chỉ số đơn giản nhất và cũng là quan trọng nhất vì nó là nền tảng để tính các chỉ số khác.

b. Hệ số ảnh hưởng (Impact Factor – IF)

Hệ số ảnh hưởng (IF) là thông số được tính hàng năm cho mỗi tạp chí, nó thể hiện rằng các bài trong tạp chí đó được trích dẫn nhiều hay ít, nghĩa là chất lượng của tạp chí cao hay thấp.

Hệ số ảnh hưởng cho biết uy tín và chất lượng của tạp chí. Hệ số này càng cao thì tạp chí càng có uy tín và càng khó để có bài được đăng trên tạp chí này. Một bài báo được đăng trên một tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao sẽ được đánh giá cao, dễ được đọc và được trích dẫn hơn. Một nhà khoa học đăng được bài trên tạp chí chất lượng và bài báo được trích dẫn nhiều sẽ được đánh giá cao.

Nguồn: Internet

[/vn][us]

1. Scientific paper

Scientific paper is the article containing scientific content and published on scientific journal after pear-review process. The scientific value of an article depends on its content. Because scientific reports are in many formats, their value is not also similar. The followings are some types of paper ranked from the highest value to lowest value.

The first is original papers or original contributions. These are scientific articles to report research results or introduce a new method, new idea or new explanation. A research can explore many new things and needs many original papers to transfer these discoveries. Randomized clinical trials can create many original papers. The scientific contributions are not limited in new inventions; they can include new methods to approach an old problem, or a new explanation for an old invention. Hence, such these papers can be considered as original contributions. All papers showing original contributions experience pear-review process before published. The paper which has not been experienced pear-review process yet cannot be considered as a scientific paper.

The second is short communications, or research letters, or short papers. These papers are short (including 600 to 1000 words or depending on the journal regulations). Their contents focus on a narrow problem or a small exploration but important. These papers still have to experience pear-review process but in a lower level than original papers. Most of papers on Nature (one of prestigous scientific journals) are letters with very high scientific value.

The third is case reports. In medical field, case reports are popular. Their contents focus on one or some special patients. These are very uncommon patients (1/1 million people) and such these information are big contributions to medicine. Such case reports also have to experience pear-review, but are not as difficult as original papers.

The forth is review paper. Prestigous authors are invited to write review papers for journals. Review papers are not original contributions. Review papers usually focus on a narrow topic on which authors have to read all corresponding papers, reviews and show main points and research directions. Review papers usually do not experience pear-review process, or unserious pear-review process in comparison with original contributions.

The fifth is editorials. While a journal publishes an important original contribution, editorial board can invite an expert to write reviews for that invention. An editorial is not an original paper, hence its value is not equivalent to orginal contributions. In general, editorials do not experience pear-review process. Editorial board reads and recommends some small ideas before publication.

The sixth is letters to the editor. Many journals use a section for readers to response to articles published. These are short writings (from 300 to 500 words, or 1 page, depending on journal regulation) about one small aspect of published article. These letters usully show a mistake in published scientific article. Writings from readers do not experience pear-review process and are sent to the authors of original papers. However, only some writings are published.

The last is conference papers. In specific conferences, researchers who attend and express their own results usually send papers to publish on conference record. There are two types of articles in this group: proceedings papers and abstracts. Proceeding papers are usually short (from 5 to 10 pages). Their content is new inventions or research methods. According to conference, these papers do not experience pear-review process or are in as unserious pear-review process as original papers. It is noted that these are not scientific papers because they do not appear on scientific journal through pear-review process.

2. Journals and impact factors

Journals are periodic newspapers weekly, monthly or every 3 months, even 6 months. The main purpose of scientific journal is to transfer information to scientific researchers to develop science. Scientific journals are scientific forums for researchers to exchange knowledge. Most of journals focus on a specific scientific topic, such as American Heart Journal, American Journal of Epidemiology, Bone, Blood, Neurology … However, some journals such as Science, Nature, Proceedings of the National Academy of Science USA publish all research from all scientific subjects.

In the world, there are about 3000 admitted medical journals and this number continues increasing every year. The standard these journals use to publish a scientific paper is different. Some journals such as Science, Nature, Cell, or Physical Reviews only publish scientific papers which editorial board sees fundamental contributions, important inventions or potential methods applied widely in scientific community. Hence, these journals decline most of scientific papers sent to them. According to a recent report, these journals publish only 1% of the papers they receive every year. In medical field, the top journals such as New England Journal of Medicine, Lancet, and JAMA decline about 95% of received papers and publish only important medical papers.

The scientific value of an article depends not only on content, but also on the type of journal. For example, in medical field, an article on big journal such as New England Journal of Medicine (NEJM) or Lancet has higher value than on journal in France or Singapore. It is right because important research is published on big journals with a large number of readers, but more importantly, these journals have a serious pear-review process.

The fame and value of a journal are estimated by Impact Factor (IF). IF is calculated by the number of published aarticles and the number of citations from those articles. IF is the average number of citations from the articles published on joural in 2 years. For example, in 1981 and 1982, Lancet published 470 original scientific papers, in 1983, there are 10011 other articles on all journals (including Lancet) referencing or citing those 470 articles; hence IF = 10011 / 470 = 21.3. In other words, each article on Lancet was referenced or cited 21 times.

Because of the timing of calculation, IF changes by time and hence, the rank of journals also changes. For example, in 1990s, British Medical Journal used to be in top medical journals; however in the early 21st century, the rank of this article dropped. In medical field, some journals are in top 10 such as Annual review of immunology (52.28), Annual review of biochemistry (37.65), Physiological reviews (36.83), Nature reviews Molecular cell biology (35.04), New England Journal of Medicine (34.83), Nature reviews Cancer (33.95), Nature (30.98), Nature medicine (30,55), Annual review of neuroscience (30.17), Science (29.16), Cell (26.63), Nature genetics (26.49), Lancet (18.32), Journal of clinical investigation (14.30), etc.

Hence, the journal with high IF is prestigous. Publishing a paper on journal with high IF means that the importance and influence of paper are high as well. However, a paper on a journal with low IF can be cited many times. For example, a paper on Behavior Genetics (IF < 2) was cited more than 10000 times in 20 years.

Until now, IF is still used as a quality measurement.

3. Pear-review process

To understand pear-review process, we can reference process to publish a scientific paper as follows. After author send paper to journal, the Editor-in-Chief or Associate Editors of journal will have a look at manuscript and decide whether it deserves to review or not. If not, the Editor-in-Chief will announce (in 1 month) to author. If paper is valuable and needs to be reviewed, the Editor-in-Chief will send manuscript to 3 or 4 reviewers.

Reviewers are professors, experts at the same field as author, understanding article problems. Author does not know who they are, but reviewers know author because they have the whole manuscripts. Reviewers will read and evaluate article on normal criteria such as research aim, research method, results, data, conclusions and language. Overall, they consider the whole manuscript and write report to the Editor-in-Chief. They can propose the Editor-in-Chief to accept or decline paper. Although the final decision is from the Editor-in-Chief, if a reviewer requires declining paper, paper will not be published. This period lasts from 1 to 4 months. After receiving reports from reviewers, the Editor-in-Chief will transfer them to author. According to reviews from reviewers, the Editor-in-Chief can give a chance to author to reply those comments or decline paper. If replied comments, author has to answer all reviews from all reviewers. The response is written in a report format, and all changes in article need to be informed to journal. This period lasts from 1 to 3 months.

In general, a paper from submitted to published (in case review and response process are smooth) takes 9 to 12 months. Because of this, some authors decide to publish in pre-print form to share with colleagues. In these days, with the advance of information technology and internet, many journals can publish papers on the internet (before printing) if article passes pre-review process and is accepted to publish. Some journals operate on the internet without printing.

The purpose of pear-review process is to evaluate and check scientific papers before publishing on a journal. This process is applied to inspect funding forms in European countries. This is an unbiased process because reviewers are professors who can evaluate paper the most accurately.

4. The structure of a paper

Most of American journals apply a standard format for scientific papers which are classified as original contributions, including the following sections:

a. Title: from 10 to 15 words (some journals require only 10 words), reflects the main idea of article. A good title not only attracts readers but also mentions the main problems to solve and uses keywords for people in the same field to be able to understand. After title, it is author’s name, workplace, email address, editor’s name, received date, accepted date; some journals require showing academic title.

b. Summary or Abstract: helps readers recognize whether article is suitable or not. This part summarizes concisely paper aim, data analysis and conclusion in 100 to 200 words. Nature và Science considers this part as brief introduction.

c. Introduction: in this part, author determines research topic, outline research aim and supply scientific basis to readers to understand the rest of paper. It is necessary to limit fundamental knowledge in author’s experiments. This part is considered to satisfy requirements if it answers completely some questions such as: (1) the reason to do this topic, (2) the existing knowledge in this topic, (3) the aim of research.

d. Materials and Methods (Experimental details or Theoretical basis): collected data and research method are presented in this part. This part is the most difficult to write. Author has to answer the following questions: (1) which type of data is used? (2) how were they used? (3) when and where were experiments completed?

e. Results: this part summarizes experimental results and do not mention their meaning. Data is presented in tables, figures, images, etc. The data which is shown in tables should not present in figures or images.

f. Discussion: this part is used to: (1) analyze results, advantages and disadvantages; (2) relationship between research results and other inventions in previous researches. This explains author’s contributions to theory and knowledge or fixes author’s mistakes in previous researches.

g. Acknowledgements or Reference: authors acknowledge their co-workers and lists documents cited in paper.

5. ISI definition

ISI is the abbreviation of Institute for Scientific Information. ISI was established by Eugene Garfield, an American scientist in 1960 and was merged to Thomson Reuters. ISI counts, evaluates and ranks thousands of scientific journals into a prestigous scientific data system:

- SCI (Science Citation Index): includes 3773 journals of 100 majors.

- SCIE (Science Citation Index Expanded): includes 8207 jourmals of 150 majors.

SCI journals are evaluated higher than SCIE journals.

- SSCI (Social Sciences Citation Index): includes 2697 journals and 3500 researches of 50 majors.

- A&HCI (Art and Humanities Citation Index): includes 1470 journals and 6000 researches.

These two groups include journals in arts, social siences and humanities.

- CPCI (Conference Proccedings Citation Index): includes 11000 conference colletions.

The list of prestigous journals in ISI

The Institute for Scientific Information (ISI) is known as Thomson ISI and now it is a part of Thomson Reuters, supplying citable database. ISI citable databse includes more than 14000 scientific journals whose IF increases every year. ISI annually publises Journal Citation Reports, listing inpact factors for each journals in ISI. Users can access Master Journal List to search prestigous journals: http://ip-science.thomsonreuters.com/mjl/#journal_lists

The list of prestigous journals in Scopus

Scopus is a prestigous database, including the abstracts and citations of scientific articles with more than 22000 topics from more than 5000 publishers, in which 20000 is the number of specific journals in science, engineering, medicine and society. Elsevier publisher owns Scopus and allows using online. The list of journals can be found in http://www.elsevier.com/journals/title/a.

Finally, these 20000 journals are classified into 4 quarter; each quarter contains approximate 5000 journals based on IF. If journal is in the quarter 1, it will be more prestigous than those in quarter 4.

The list of journals in ISI and Scopus is updated every 6 months or every year.

6. Some standard to evaluate scientists

There are two general indexes to evaluate researches and researchers.

a. Citation Index

Citation index was used in 1955 by Garfield. This is the number of citations of a paper in other documents. This is the most simple and important index because it is the foundation to calculate other indexes.

b. Impact Factor – IF

IF is calculated annually for every journal. It shows whether articles in those journals are cited more or less. It means that the quality of journal is high or low.

IF shows the prestige and quality of journal. The higher this factor is, the more prestigous the journal get and the more difficult to publish on this journal. The article published on journal with high IF is evaluated higher and easy to read and be cited. The scientist publishing articles on high-quality journal and getting many citations will be evaluated higher.

Source: the Internet[/us]
Header: 
[vn]Bài báo khoa học, tập san và cơ chế bình xét[/vn][us]Scientific paper, journal and pear-review process[/us]
Hình minh họa: